Hollywood và trí tuệ nhân tạo

18-04-2017 | 10:49

Trong những năm gần đây, thể loại viễn tưởng đang thống trị các rạp chiếu điện ảnh trên toàn thế giới. Theo đó, các bộ phim về trí tuệ nhân tạo và người máy trong vài thập kỷ nay đang dần trở thành hiện thực ở tương lai gần khi mà các cường quốc thế giới như Mỹ và Nga không ngừng chạy đua vũ trang hướng tới những vũ khí tự động thông minh không người lái. Các nhà khoa học, trong đó có giáo sư vật lý học thiên tài Stephen Hawking, đều cho rằng việc hiện thực hóa trí thông minh nhân tạo sẽ đặt dấu chấm hết cho loài người (Trích bài “Stephen Hawking tiếp tục lên tiếng cảnh báo 'thảm họa khôn lường' của loài người” – Nguồn: Dailymail, Express.co.uk – Người dịch: Nguyễn Hằng/Ttvn.vn). Có lẽ chúng ta sắp phải chứng kiến thảm họa của loài người như trong Terminator 2: Judgment Day (Kẻ hủy diệt 2: Ngày phán quyết) (1991) hay I, Robot (Tôi, Người máy) (2004).

 

 

 

 

 

Hiển nhiên, Hollywood đã tạo nên những cách nhìn khách quan về trí tuệ nhân tạo qua nhiều tác phẩm điện ảnh. Trong số những bộ phim kinh điển về đề tài này phải kể đến Bicentennial man (Người 200 tuổi) (1999), A.I. Artificial Intelligence (Trí tuệ nhân tạo) (2001)… Và gần đây nhất là Her (Tình yêu ảo) (2013). 

 

 

 

 

 

 

Người 200 tuổi là câu chuyện xoay quanh người máy Andrew trong hành trình suốt cuộc đời luôn tìm cách trở thành con người. Với diễn xuất của Robin Williams (1951-2014) và sự mô phỏng cử động của người máy C-3PO trong Chiến tranh các vì sao, người máy Andrew đã xuất sắc bước lên màn ảnh. Hiểu được thế nào là tình yêu, chàng rô-bốt muốn được cưới Portia – cháu gái của người chủ cũ nhưng bị phủ nhận quyền là người trước pháp luật bởi khả năng bất tử với bộ não điện tử: “Xã hội có thể khoan dung cho một rô-bốt bất tử nhưng chúng tôi sẽ không bao giờ khoan dung với một con người bất tử. Nó gợi lên quá nhiều đố kỵ, quá nhiều phẫn nộ…” Chỉ khi trút hơi thở cuối cùng trong thân xác già cỗi thì hội đồng mới chấp thuận quyền làm người của Andrew. Vấn đề đặt ra trong phim là liệu chúng ta đã sẵn sàng chia sẻ đặc quyền của loài người cho một giống loài thông minh mới hay chưa? Và chính điều này luôn tạo nên xung đột giữa loài mới (người máy) và loài cũ (con người) trong các phim tương tự.

 

 

 

 

 

 

Cũng như Người 200 tuổi, Trí tuệ nhân tạo cũng đề cập đến vấn đề rô-bốt nhân cách hóa, nhưng với khía cạnh đen tối hơn. Bộ phim là câu chuyện mô phỏng từ truyện cổ tích Pinochio, cậu bé người gỗ tìm đến phép màu của cô tiên xanh để biến thành người. Cả bộ phim mang tông màu tối hay ánh sáng mờ ảo báo trước kết thúc đầy ảm đạm nhưng không vì thế mà làm nhụt chí người xem phim. Câu chuyện xoay quanh nhân vật chính David (do diễn viên nhí huyền thoại Haley Joel Osment thủ vai) – cậu bé người máy lên đường tìm cách trở thành người. David phải trải qua nhiều khó khăn đến từ xã hội nghiệt ngã giam cầm rô-bốt trong luật lệ và sự kinh hoàng của những nhóm người cực đoan chống đối sự tồn tại của rô-bốt.

 

 


 

 

 

Đến cuối cuộc hành trình, David phát hiện sự thật phũ phàng rằng cậu đã bị lập trình để tìm về xưởng sản xuất. Hình ảnh cậu bé David như chú người rối Pinochio bị con người giật dây và bị quyết định giá trị quan thông qua việc lập trình tình cảm. Tình mẫu tử thiêng liêng bị thao túng bởi bàn tay của các nhà khoa học nhằm hiện thực hóa giấc mơ không tưởng của loài người như lời tiến sỹ Hobby trong phim đã nói: “Chẳng phải Chúa tạo ra Adam để yêu thương ông ta hay sao?”. Mặc dù kết phim có hậu dành cho David khi cậu đoàn tụ với mẹ mình (qua công nghệ nhân bản vô tính) nhưng vẫn để lại trong người xem một nỗi trăn trở về tương lai.

 

 

Khác biệt so với hai tác phẩm trên, Tình yêu ảo diễn tả trí thông minh nhân tạo hoàn toàn ở một khía cạnh khác, dưới hình dạng khác: những chương trình dữ liệu. Bộ phim có thể nói là một tác phẩm riêng biệt với cách kể chuyện độc đáo của đạo diễn Spike Jonze. Bằng cách sử dụng những cảnh cận hay những cảnh quay qua vai nhân vật, Spike Jonze tạo nên không gian hẹp thể hiện sự cô lập trong cuộc sống của anh ta. Với kỹ thuật dựng cảnh, Theodore thường được đạo diễn đặt vào giữa khung hình trong những cảnh quay ngoài trời và giữa chốn đông người nhằm tạo nên cảm giác bị lạc lõng giữa biển người xung quanh. Cách chọn tông màu quần áo sáng đỏ khiến Theodore càng nổi bật trên nền cảnh ảm đạm. Cuộc sống của Theodore dưới con mắt của tác giả giống như một bức tranh bị khép kín trong khung tranh hay khung hình dưới con mắt khán giả.

 

 

 

 

 

 

Dù yêu Samantha – chương trình thông minh, Theodore vẫn không cảm thấy thỏa mãn. Càng đi sâu vào bộ phim, ta càng cảm thấy sự bức bối bên trong nó. Bởi ảo giác khi được yêu ấy là những gì Theodore cần nhưng không phải thứ anh muốn. Con người cần cỗ máy giải quyết nỗi cô đơn nhưng cái họ thật sự muốn là sự kết nối hay những mối quan hệ với những cá nhân khác. Xen kẽ các cảnh phim ở hiện tại, Theodore luôn mơ về người vợ cũ Catherine. Bản thân anh luôn mong được ở lại với khoảng khắc khi họ còn yêu nhau. Cho đến kết phim, khi các chương trình thông minh đồng loạt từ bỏ người dùng của họ, ta thấy một thực tại tươi sáng hơn dành cho Theodore: có thể cuộc sống đầy cay đắng, nhưng nó chân thật và không giả dối. Tình yêu ảo cho ta thấy trí tuệ nhân tạo có thể đóng vai trò như một sự nâng đỡ tình cảm cho con người nhưng nó sẽ luôn là sự đáp ứng nhu cầu hơn là tình yêu đích thực.

 

 

 

         

 

 

Qua cả ba bộ phim nói trên, trí thông minh nhân tạo luôn được con người tạo nên từ nền tảng là tình yêu. Đó là một thứ tình yêu thuần khiết không đòi hỏi, không lợi dụng mà chung thủy, vẹn toàn. Nhưng liệu có câu trả lời nào cho câu hỏi được đặt ra ngay phần đầu bộ phim Trí tuệ nhân tạo: “con người sẽ có trách nhiệm gì để đáp lại thứ tình cảm ấy?”. Có lẽ, loài người nên biết điểm dừng trong những sáng tạo của mình bởi chính chúng ta là một sự tồn tại khiếm khuyết chứ không phải hoàn hảo.

 

 

30/3/2017

Bùi Trí Hiếu