Quyết định thành lập Viện

Viện phim Việt Nam được thành lập theo Quyết định số 343/CP ngày 22/9/1979 của Hội đồng Chính phủ với tên gọi ban đầu là Viện Tư liệu Phim Việt Nam (nay là Viện phim Việt Nam). Ngày 28/5/2008, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ban hành Quyết định số 2388/QĐ-BVHTTDL quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Viện phim Việt Nam.

Viện phim Việt Nam là đơn vị sự nghiệp có thu, thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, có chức năng lưu chiểu phim, lưu trữ phim và bảo quản các tư liệu điện ảnh; nghiên cứu lý luận, công nghệ lưu trữ điện ảnh; khai thác và phổ biến các tư liệu điện ảnh theo quy định của pháp luật.

Viện Phim Việt Nam có con dấu riêng và được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước.

 

 

Nhiệm vụ của Viện Phim Việt Nam:

 

  1. Trình Bộ trưởng quy hoạch phát triển, kế hoạch hoạt động dài hạn và hàng năm về lĩnh vực lưu chiểu phim, lưu trữ phim, bảo quản, phổ biến các tư liệu điện ảnh và tổ chức thực hiện sau khi được phê duyệt.
  2. Theo dõi, tiếp nhận, lưu chiểu phim sản xuất trong nước và phim nhập vào Việt Nam (kể cả các phim chưa được phép phát hành).
  3. Sưu tầm, lưu trữ, bảo quản và phục chế các bộ phim, đoạn phim, tài liệu hiện vật (gọi tắt là tư liệu) về điện ảnh trong nước và quốc tế.
  4. Tổ chức quay phim, ghi hình các sự kiện, đặc điểm, tình hình của đời sống xã hội, đất nước, con người Việt Nam để bổ sung cho nguồn tư liệu lưu trữ.
  5. Nghiên cứu về nghiệp vụ, kỹ thuật lưu trữ, bảo quản hình ảnh động, nghiên cứu về lý luận, nghệ thuật, lịch sử, xã hội học điện ảnh phục vụ cho việc hoạch định chính sách và sự chỉ đạo, điều hành của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
  6. Thực hiện các dịch vụ khoa học, chuyển giao công nghệ, ứng dụng khoa học công nghệ, kết quả nghiên cứu về điện ảnh vào thực tế, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của Viện theo quy định của pháp luật.
  7. Tổ chức, phối hợp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và nhân lực về điện ảnh thuộc chức năng, nhiệm vụ của Viện.
  8. Tổ chức dịch, biên soạn các tác phẩm, công trình nghiên cứu có giá trị về điện ảnh để cung cấp tài liệu khoa học, phục vụ việc sáng tác, nghiên cứu, giảng dạy, học tập, hoạt động chuyên môn nghiệp vụ theo chức năng, nhiệm vụ được giao. Mua những tác phẩm điện ảnh có giá trị trong nước và nước ngoài để phục vụ công tác nghiên cứu, sáng tác và đào tạo.
  9. Khai thác, phổ biến, phát hành các tác phẩm điện ảnh lưu trữ phục vụ nhu cầu nghiên cứu, sáng tác, đào tạo và góp phần nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho nhân dân.
  10.  Cung cấp tư liệu cho các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước có nhu cầu; trao đổi bản sao tư liệu; tổ chức làm phim thực nghiệm và khai thác hợp lý, hiệu quả các thiết bị làm phim theo quy định của pháp luật.
  11.  Tham gia các tổ chức quốc tế về lưu trữ hình ảnh động và hợp tác với các tổ chức điện ảnh nước ngoài theo sự phân công của Bộ trưởng.
  12.  Thông tin, tuyên truyền, giới thiệu kết quả nghiên cứu và phổ biến tri thức về lĩnh vực điện ảnh cho nhân dân.
  13.  Xác định vị trí việc làm, cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp và số lượng người làm việc trình cấp có thẩm quyền phê duyệt; quản lý, tổ chức bộ máy, nhân sự, thực hiện các chế độ, chính sách đối với công chức, viên chức, người lao động thuộc phạm vi quản lý của Viện theo quy định của Nhà nước và phân cấp quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
  14.  Quản lý, sử dụng nhà đất, tài chính, tài sản và ngân sách được phân bổ theo quy định của pháp luật. Quản lý và sử dụng nguồn thu theo của định của pháp luật.
  15.  Thực hiện các nhiệm vụ khác được Bộ trưởng giao.